Xem trước tài liệu

Đang tải tài liệu...

Thông tin chi tiết tài liệu

Định dạng: PDF
Số trang: 119 trang
Dung lượng: Đang cập nhật

Giới thiệu nội dung

Tăng sản thượng thận bẩm sinh (TSTTBS) là một bệnh lý nội tiết di truyền chủ yếu do đột biến gen CYP21A2 trên nhiễm sắc thể số 6 gây ra sự thiếu hụt enzym 21-hydroxylase, chiếm tỷ lệ hơn 90% các trường hợp mắc bệnh. Sự thiếu hụt enzym này làm rối loạn quá trình tổng hợp hormon, dẫn đến giảm nồng độ cortisol và aldosteron, đồng thời làm tăng testosteron. Hậu quả lâm sàng của tình trạng này vô cùng nghiêm trọng, gây ra các biểu hiện như rối loạn điện giải, mất muối, mất nước, dẫn đến trụy tim mạch hoặc tử vong nếu không được phát hiện và cấp cứu kịp thời. Ngoài ra, bệnh còn gây nam hóa bộ phận sinh dục ở trẻ gái và dậy thì sớm giả ở trẻ trai, để lại những di chứng ảnh hưởng nặng nề đến cuộc sống nếu không được điều trị.

Bệnh di truyền theo quy luật đơn gen lặn trên nhiễm sắc thể thường, với tỷ lệ mắc bệnh trên thế giới khoảng 1/14.000 đến 1/20.000, trong khi tỷ lệ người lành mang gen bệnh trong quần thể lại rất cao, dao động từ 1/60 đến 1/83. Người mang gen dị hợp có kiểu hình hoàn toàn bình thường nhưng tiềm ẩn nguy cơ truyền lại gen bệnh cho thế hệ sau. Nếu hai người dị hợp tử kết hôn, xác suất sinh con mắc bệnh lên tới 25%. Chính vì tỷ lệ mang gen ẩn cao, việc áp dụng các biện pháp can thiệp phòng bệnh tích cực thông qua tư vấn di truyền, sàng lọc người lành mang gen và chẩn đoán trước sinh là vô cùng cấp thiết. Tại Việt Nam, khoa Nội tiết – Chuyển hóa – Di truyền Bệnh viện Nhi Trung ương đang quản lý hơn 700 hồ sơ bệnh nhân, tuy nhiên các nghiên cứu chuyên sâu về người lành mang gen và chẩn đoán trước sinh vẫn còn rất ít.

Sự phát triển của các kỹ thuật sinh học phân tử hiện đại như giải trình tự gen và MLPA đã cho phép phát hiện chính xác, nhanh chóng các đột biến điểm, xóa đoạn, lặp đoạn và chuyển đoạn gen trên bệnh nhân. Việc xác định người mang gen bệnh mang lại ba ý nghĩa to lớn: giúp khẳng định chẩn đoán để điều trị sớm tránh cơn suy thượng thận cấp, hỗ trợ tư vấn tiền hôn nhân nhằm giảm tỷ lệ trẻ sinh ra mắc bệnh, đồng thời chẩn đoán và can thiệp điều trị trước sinh cho thai nhi gái nhằm giảm thiểu các bất thường gây mơ hồ giới tính. Từ những nhu cầu cấp bách và ý nghĩa thực tiễn đó, nghiên cứu được triển khai với hai mục tiêu cốt lõi: phát hiện người lành mang gen đột biến cho các thành viên trong gia đình bệnh nhân TSTTBS thể thiếu enzym 21-hydroxylase và tiến hành chẩn đoán trước sinh kết hợp tư vấn di truyền cho thai phụ mang gen.